MỐI LIÊN QUAN GIỮA CÁC CHỈ SỐ DOPPLER ĐỘNG MẠCH NÃO GIỮA, ĐỘNG MẠCH RỐN VÀ KẾT CỤC CHU SINH Ở THAI QUÁ NGÀY SINH DỰ ĐOÁN TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA QUỐC TẾ VINMEC TIMES CITY

Nguyễn Quang Nam1,2, , Hoàng Thị Thu Hương1, Nguyễn Thị Mai3, Phạm Ngọc Hà4, Đào Ngọc Quyền4
1 Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec Times City
2 Trường Đại học VinUni
3 Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec Phú Quốc
4 Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec Ocean Park 2

Nội dung chính của bài viết

Tóm tắt

Mục tiêu: Đánh giá mối liên quan giữa các chỉ số Doppler động mạch não giữa (ĐMNG), động mạch rốn (ĐMR), tỷ não–rốn (cerebroplacental ratio – CPR) với kết cục chu sinh ở thai quá ngày sinh dự đoán.


Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích trên 66 sản phụ mang đơn thai sống, tuổi thai từ 40 tuần 1 ngày đến 41 tuần 6 ngày, được khảo sát Doppler ĐMR và ĐMNG trước khi kết thúc thai kỳ tại tại Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec Times City từ tháng 1 đến tháng 12 năm 2025.


Kết quả: Có 14/66 trường hợp (21,2%) ghi nhận kết cục chu sinh bất lợi. So với nhóm không có kết cục bất lợi, PI ĐMNG, RI ĐMNG và CPR thấp hơn có ý nghĩa thống kê (lần lượt p=0,008; p=0,021 và p=0,003), trong khi các chỉ số Doppler ĐMR không khác biệt. AUC của PI ĐMNG và CPR lần lượt là 0,780 (KTC 95%: 0,640–0,920) và 0,760 (KTC 95%: 0,620–0,900), với điểm cắt tương ứng ≤1,18 và ≤1,43. PI ĐMNG ≤1,18 và CPR ≤1,43 liên quan với mổ lấy thai do suy thai, với OR lần lượt 5,60 (KTC 95%: 1,34–23,39; p=0,018) và 5,20 (KTC 95%: 1,30–20,76; p=0,019).


Kết luận: Ở thai quá ngày sinh dự đoán, PI ĐMNG và CPR thấp có liên quan với kết cục chu sinh bất lợi. Các chỉ số này có thể cung cấp thêm thông tin trong đánh giá tình trạng thai, nhưng không nên được sử dụng đơn độc để quyết định xử trí sản khoa.

Chi tiết bài viết

Tài liệu tham khảo

1. Wennerholm UB, Saltvedt S, Wessberg A, Alkmark M, Bergh C, Wendel SB, et al. Induction of labour at 41 weeks versus expectant management and induction of labour at 42 weeks (SWEdish Post-term Induction Study, SWEPIS): multicentre, open label, randomised, superiority trial. Bmj. 2019;367:l6131.
2. Dunn L, Sherrell H, Kumar S. Review: Systematic review of the utility of the fetal cerebroplacental ratio measured at term for the prediction of adverse perinatal outcome. Placenta. 2017;54:68-75.
3. Vollgraff Heidweiller-Schreurs CA, De Boer MA, Heymans MW, Schoonmade LJ, Bossuyt PMM, Mol BWJ, et al. Prognostic accuracy of cerebroplacental ratio and middle cerebral artery Doppler for adverse perinatal outcome: systematic review and meta-analysis. Ultrasound Obstet Gynecol. 2018;51(3):313-22.
4. Ashkar Majadla N, Abu Shqara R, Frank Wolf M, Tuma R, Lowenstein L, Odeh M. The role of the cerebroplacental ratio in predicting pregnancy outcomes at 40-42 gestational weeks: a prospective observational trial. Arch Gynecol Obstet. 2024;310(1):113-9.
5. Đoàn Thị Phương Lam, Phan Thành Nam, Nguyễn Mạnh Thắng. Dừng thai nghén ở thai quá ngày dự sinh tại khoa đẻ bệnh viện phụ sản trung ương: kết quả, những yếu tố nguy cơ cho trẻ sơ sinh và sản phụ. Tạp chí Y học Việt Nam. 2025;548(2):181-3.
6. Nguyễn Xuân Hoàng, Trần Thị Ngọc Bích, Trương Thị Linh Giang và cộng sự. Nghiên cứu mối liên quan giữa siêu âm Doppler động mạch não giữa, động mạch rốn và kết cục thai kỳ ở thai quá ngày sinh dự đoán. Tạp chí Phụ sản. 2024;22(5):37-44.
7. Vollgraff Heidweiller-Schreurs CA, van Osch IR, Heymans MW, Ganzevoort W, Schoonmade LJ, Bax CJ, et al. Cerebroplacental ratio in predicting adverse perinatal outcome: a meta-analysis of individual participant data. Bjog. 2021;128(2):226-35.