ĐẶC ĐIỂM XÉT NGHIỆM ĐÔNG CẦM MÁU CƠ BẢN Ở NGƯỜI BỆNH TRƯỚC PHẪU THUẬT GAN MẬT TẠI BỆNH VIỆN TRUNG ƯƠNG QUÂN ĐỘI 108

Nguyễn Thanh Bình1, , Trịnh Thị Minh Thư2, Phạm Minh Tuệ2, Hồ Xuân Trường1, Đàm Thị Nguyệt1, Chử Thị Thu Hường1
1 Trường Đại học Kỹ thuật Y tế Hải Dương
2 Bệnh viện Trung ương Quân đội 108

Nội dung chính của bài viết

Tóm tắt

Mục tiêu: Mô tả đặc điểm các xét nghiệm đông cầm máu cơ bản và phân tích một số yếu tố liên quan ở người bệnh trước phẫu thuật gan mật.


Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu cắt ngang có phân tích, hồi cứu trên 177 người bệnh được chỉ định phẫu thuật gan mật tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 từ tháng 3 đến tháng 5 năm 2026. Tỷ lệ bất thường PT%, rAPTT, fibrinogen và số lượng tiểu cầu được so sánh theo tuổi, giới, nhóm bệnh và xuất huyết lâm sàng bằng kiểm định chính xác Fisher.


Kết quả: Nam giới chiếm 62,7%, nhóm tuổi ≥ 60 chiếm 49,2%, bệnh đường mật chiếm 72,9%. Giá trị trung bình của PT%, rAPTT, fibrinogen và số lượng tiểu cầu lần lượt là 105 ± 20%, 1,15 ± 0,36, 3,83 ± 1,18 g/L và 255 ± 94 G/L. Fibrinogen có tỷ lệ bất thường cao nhất (41,8%, chủ yếu là tăng – 36,2%); rAPTT kéo dài 16,4%; giảm tiểu cầu 13,5%; giảm PT% 6,8%. Có 56,5% người bệnh có ít nhất một xét nghiệm bất thường. Tỷ lệ rAPTT kéo dài, giảm fibrinogen và giảm tiểu cầu khác biệt giữa các nhóm bệnh (p < 0,001), cao nhất ở nhóm xơ gan, suy gan. Chỉ 4 người bệnh có xuất huyết lâm sàng; giảm tiểu cầu có xu hướng liên quan với xuất huyết tiêu hóa (OR 13,8; KTC 95%: 1,1 – 174; p = 0,052), trong khi giảm PT%, rAPTT kéo dài và giảm fibrinogen không liên quan với xuất huyết (p > 0,05). Tuổi và giới không liên quan với bất thường xét nghiệm.


Kết luận: Phần lớn người bệnh trước phẫu thuật gan mật còn bảo tồn chức năng đông cầm máu trên xét nghiệm cơ bản; bất thường tập trung ở nhóm xơ gan, suy gan. Xu hướng liên quan giữa giảm tiểu cầu và xuất huyết cần được xác nhận trên cỡ mẫu lớn hơn.

Chi tiết bài viết

Tài liệu tham khảo

1. Lisman T, Caldwell SH, Intagliata NM (2022). Haemostatic alterations and management of haemostasis in patients with cirrhosis. J Hepatol, 76(6), 1291-1305.
2. Kujovich JL (2015). Coagulopathy in liver disease: a balancing act. Hematology Am Soc Hematol Educ Program, 2015(1), 243-249.
3. Kietaibl S, Ahmed A, Afshari A, et al (2023). Management of severe peri-operative bleeding: Guidelines from the European Society of Anaesthesiology and Intensive Care: Second update 2022. Eur J Anaesthesiol, 40(4), 226-304.
4. Nguyễn Thị Vân Anh và cộng sự (2024). Sự thay đổi của một số chỉ số đông cầm máu ở người bệnh ghép gan từ người cho sống tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108. Tạp chí Y dược lâm sàng 108, 19(1), 109-116.
5. Trần Thanh Tòng và cộng sự (2024). Khảo sát đặc điểm rối loạn đông cầm máu trên bệnh nhân xơ gan tại Bệnh viện Đa khoa Đồng Tháp. Tạp chí Y dược học Cần Thơ, 76, 14-20.
6. Đinh Thị Thu Trang và cộng sự (2024). Đặc điểm các chỉ số xét nghiệm tổng phân tích tế bào máu ngoại vi và đông máu cơ bản trên bệnh nhân ung thư gan. Tạp chí Y học Việt Nam, 537, 97-101.
7. Trần Thị Kiều My và cộng sự (2024). Giá trị của một số chỉ số đông cầm máu và xét nghiệm ROTEM ở bệnh nhân xơ gan có xuất huyết. Tạp chí Y học Việt Nam, 545(3), 266-270.
8. Rahhal H, Sampat R, Tse B, et al (2026). Assessing preoperative bleeding risk using international normalized ratio and activated partial thromboplastin time: a systematic review. J Thromb Haemost, 24(5), 1627-1642.