KẾT QUẢ PHẪU THUẬT ĐIỀU TRỊ GÃY MỎM KHUỶU BẰNG PHƯƠNG PHÁP NÉO ÉP TẠI BỆNH VIỆN HỮU NGHỊ VIỆT ĐỨC

Nguyễn Thế Anh1,2, Đào Xuân Thành2,3,
1 Bệnh viện Đa khoa huyện Thường Tín
2 Bệnh viện Đại học Y Hà Nội
3 Trường Đại học Y Hà Nội

Nội dung chính của bài viết

Tóm tắt

Mục tiêu: Đánh giá kết quả phẫu thuật điều trị gãy mỏm khuỷu bằng phương pháp néo ép tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Thiết kế mô tả kết hợp hồi cứu và tiến cứu trên 68 bệnh nhân gãy mỏm khuỷu và có chỉ định phẫu thuật kết hợp xương (KHX) bằng phương pháp néo ép tại Bệnh viện Việt Đức từ tháng 06/2021 - 12/2023. Kết quả: Tuổi trung bình là 41,2 ± 17,9 tuổi, phần lớn là nam giới (chiếm 67,7%), nguyên nhân gãy xương chủ yếu do tai nạn giao thông (61,8%). Phân loại gãy xương theo Mayo loại IIA, IIB chiếm tỷ lệ chủ yếu (67,65% và 20,59%), các loại gãy IA, IB và IIIA chiếm tỷ lệ lần lượt là 2,94%, 5,88% và 2,94%. Kết quả phẫu thuật: thời gian phẫu thuật trung bình là 65,28 ± 11,7 phút. Đánh giá trên X-quang: 94,12% bệnh nhân không còn di lệch, 95,59% liền xương hoàn toàn. Điểm chức năng MEPS trung bình sau phẫu thuật là 89,6 ± 5,61 điểm, trong đó mức rất tốt (82,4%), tốt (14,7%), khá (2,9%). Biến chứng sau 6 tháng phẫu thuật gồm chậm liền xương (2,94%), chồi đinh (2,94%) và thoái hoá khớp (1,47%). Không tìm được mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa loại gãy xương với kết quả liền xương (p > 0,05), nơi tập PHCN, nhóm tuổi, tổn thương phối hợp với điểm chức năng MEPS sau phẫu thuật (p > 0,05). Kết luận: Phẫu thuật kết hợp xương bằng phương pháp néo ép điều trị gãy mỏm khuỷu cho kết quả lâm sàng tốt, chức năng khớp khuỷu cải thiện rõ rệt, tỷ lệ biến chứng sau phẫu thuật thấp.

Chi tiết bài viết

Tài liệu tham khảo

Duckworth AD, Clement ND, Aitken SA, Court-Brown CM, McQueen MM. The epidemiology of fractures of the proximal ulna. Injury. 2012;43(3):343-346.
2. Newman SDS, Mauffrey C, Krikler S. Olecranon fractures. Injury. 2009;40(6):575-581.
3. Võ TT, Phan NT. Đánh giá kết quả điều trị gãy mỏm khuỷu bằng nẹp vít khóa. Tạp Chí Y Học Việt Nam. 2024;543(1).
4. Giardina SMC, Testa G, Cuffaro ER, et al. Surgical Treatment for Simple Isolated and Displaced Olecranon Fractures: Comparison between Plate and Tension Band Wire Fixation. J Clin Med. 2024;13(6):1815.
5. Niglis L, Bonnomet F, Schenck B, et al. Critical analysis of olecranon fracture management by pre-contoured locking plates. Orthop Traumatol Surg Res OTSR. 2015;101(2):201-207.
6. Chalidis BE, Sachinis NC, Samoladas EP, Dimitriou CG, Pournaras JD. Is tension band wiring technique the “gold standard” for the treatment of olecranon fractures? A long term functional outcome study. J Orthop Surg. 2008;3:9.
7. Schneider MM, Nowak TE, Bastian L, et al. Tension band wiring in olecranon fractures: the myth of technical simplicity and osteosynthetical perfection. Int Orthop. 2014;38(4):847-855.
8. Gathen M, Jaenisch M, Peez C, et al. Plate fixation and tension band wiring after isolated olecranon fracture comparison of outcome and complications. J Orthop. 2020;18:69-75.
9. Hoàng Nam Đ, Xuân Thùy N. Đánh giá kết quả phẫu thuật kết hợp xương nẹp vít điều trị gãy kín liên lồi cầu xương cánh tay ở người trưởng thành tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức. Tạp Chí Y Học Việt Nam. 2021;507(2).
10. Cho JW, Oh JK, Um J, Sohn HS. Outcomes of embedded rafting k-wire technique for intermediate articular fragment fixation in comminuted olecranon fractures. Arch Orthop Trauma Surg. 2022;142(11):3327-3334.