NGHIÊN CỨU SỰ THAY ĐỔI MẬT ĐỘ MẠCH MÁU VÀ MẬT ĐỘ TƯỚI MÁU VÙNG HOÀNG ĐIỂM TRÊN CHỤP CẮT LỚP QUANG HỌC MẠCH MÁU (OCTA) SAU TIÊM NỘI NHÃN BEVACIZUMAB Ở BỆNH NHÂN THOÁI HÓA HOÀNG ĐIỂM TUỔI GIÀ THỂ ƯỚT

Phạm Minh Thảo1,, Cung Hồng Sơn2, Nguyễn Minh Hằng3, Trần Thị Hương Lan4
1 Bệnh viện TWQĐ 108
2 Bệnh viện mắt Trung Ương
3 Đại học Y Hà Nội
4 Bệnh viện mắt Hồng Sơn

Nội dung chính của bài viết

Tóm tắt

Mục tiêu: Nghiên cứu sự thay đổi mật độ mạch máu và mật độ tưới máu vùng hoàng điểm trên chụp cắt lớp quang học mạch máu (optical coherence tomography angiography - OCTA) sau tiêm nội nhãn Bevacizumab ở bệnh nhân thoái hóa hoàng điểm thể ướt. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả tiến cứu trên 37 mắt của 30 bệnh nhân thoái hoá hoàng điểm tuổi già thể tân mạch, có chỉ định tiêm Bevacizumab nội nhãn hàng tháng trong 3 tháng liên tiếp, từ tháng 09/2024 đến hết tháng 08/2025 tại Bệnh viện Mắt Hồng Sơn. Các chỉ số mật độ mạch máu và mật độ tưới máu được máy đo lại và phân tích tại các vùng trung tâm, cạnh trung tâm, ngoài trung tâm và toàn bộ vùng hoàng điểm. Kết quả: Trong 37 mắt nghiên cứu, mật độ mạch máu vùng trung tâm thấp hơn vùng cạnh trung tâm ngoài trung tâm và toàn bộ. Sau 3 tháng điều trị, mật độ mạch máu vùng trung tâm giảm từ 7,29 ± 5,77 xuống 6,41 ± 5,25; trong khi đó vùng cạnh trung tâm tăng từ 13,09 ± 5,23 lên 13,10 ± 4,75, vùng ngoài trung tâm tăng từ 13,88 ± 4,57 lên 14,45 ± 3,87 và toàn bộ tăng từ 13,44 ± 4,60 lên 14,00 ± 3,91 (p > 0,05). Về mật độ tưới máu, vùng trung tâm (16,90 ± 13,83%) thấp hơn đáng kể so với vùng cạnh trung tâm (31,45 ± 13,40%), ngoài trung tâm (33,62 ± 11,74%) và toàn bộ (32,55 ± 11,76%). Sau 3 tháng, mật độ tưới máu trung tâm giảm còn 14,10 ± 11,81%, cạnh trung tâm giảm còn 30,62 ± 11,64%, trong khi vùng ngoài trung tâm tăng lên 34,65 ± 9,12% và toàn bộ tăng lên 33,59 ± 9,91% (p > 0,05). Có mối tương quan chặt chẽ giữa mật độ mạch máu và mật độ tưới máu tại tất cả các thời điểm nghiên cứu, nhưng không ghi nhận mối tương quan giữa hai thông số này với độ dày hoàng điểm, diện tích tân mạch hay thị lực tại tất cả các thời điểm. Kết luận: OCT-A là phương pháp an toàn, tin cậy và có khả năng theo dõi lặp lại trong suốt quá trình điều trị thoái hóa hoàng điểm tuổi già thể ướt. Sau ba mũi tiêm Bevacizumab nội nhãn liên tiếp hàng tháng, sự thay đổi mật độ mạch máu và mật độ tưới máu trên OCT-A không đạt ý nghĩa thống kê. Có mối tương quan tuyến tính giữa mật độ mạch máu và mật độ tưới máu, nhưng không tìm thấy mối tương quan có ý nghĩa giữa các thông số này với độ dày hoàng điểm, diện tích tân mạch hay thị lực.

Chi tiết bài viết

Tài liệu tham khảo

Cennamo G, Montorio D, Romano MR, et al. Optical coherence tomography angiography after intravitreal bevacizumab in neovascular age-related macular degeneration. Ophthalmol Ther. 2020;9(1):77-85.
2. Coscas G, Lupidi M, Coscas F, et al. Optical coherence tomography angiography in exudative age-related macular degeneration: a predictive model for treatment decisions. Br J Ophthalmol. 2018;103(9):1342-1346.
3. Faatz H, Lommatzsch A. Optical coherence tomography angiography in neovascular age-related macular degeneration: an update. J Clin Med. 2024;13(17):5042.
4. Ferrara N, Adamis AP. Ten years of anti-vascular endothelial growth factor therapy. Nat Rev Drug Discov. 2016;15(6):385–403.
5. Santamaría J, Diaz-Barreda M, et al. Correlation between topographic vessel density and retinal thickness in patients treated with anti-VEGF therapy. J Pers Med. 2023;13(12):1718.
6. Park JB, Kim JH, et al. OCT angiography biomarkers in macular neovascularization: predictive value in anti-VEGF therapy. BMC Ophthalmol. 2023;23:287.
7. Spaide RF, Fujimoto JG, Waheed NK. Optical coherence tomography angiography. Prog Retin Eye Res. 2018;64:1-55.
8. Toto L, Di Antonio L, Mastropasqua R, et al. Optical coherence tomography angiography findings in exudative age-related macular degeneration after intravitreal bevacizumab treatment. Retina. 2016;36(8):1566-1576.