TÌNH HÌNH ĐỀ KHÁNG THUỐC KHÁNG NẤM CỦA MALASSEZIA SPP. TRÊN BỆNH NHÂN NẤM DA TẠI BỆNH VIỆN DA LIỄU THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Nội dung chính của bài viết
Tóm tắt
Mục tiêu: Xác định tỉ lệ đề kháng thuốc kháng nấm của loài Malassezia gây bệnh trên bệnh nhân lang ben đến khám tại Bệnh viện Da Liễu Thành phố Hồ Chí Minh. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang được thực hiện trên 175 bệnh nhân được chẩn đoán lang ben tại Bệnh viện Da Liễu Thành phố Hồ Chí Minh từ tháng 3/2025 đến tháng 10/2025. Mẫu vảy da được thu thập và cấy trên môi trường Sabouraud Dextrose Agar (SDA) và mDixon để phân lập Malassezia spp. Các chủng dương tính được định danh dựa trên đặc điểm hình thái và sinh hóa đặc trưng. Thử nghiệm độ nhạy cảm kháng nấm được tiến hành bằng phương pháp vi pha loãng trong môi trường lỏng, theo hướng dẫn của Viện Tiêu chuẩn Lâm sàng và Cận lâm sàng (CLSI, M27-A3) đối với thuốc kháng nấm nhóm azole. Do chưa có breakpoint chính thức cho chi Malassezia, ngưỡng cắt được lấy là giá trị MIC ≥ 1 µg/mL đối với itraconazole và ≥ 8 µg/mL đối với fluconazole, dựa trên sự đồng thuận từ các công bố quốc tế và tham chiếu tiêu chuẩn CLSI dành cho Candida spp. Kết quả: Từ 175 mẫu bệnh phẩm, có 99 mẫu (56,6%) nuôi cấy dương tính, phân lập được 8 loài Malassezia, trong đó M. furfur (36,4%), M. globosa (28,3%) và M. dermatis (18,2%) là ba loài chiếm ưu thế. Itraconazole thể hiện hoạt tính mạnh nhất (MIC₅₀ = 0,063–0,125 µg/mL), chỉ 1 chủng (M. globosa, 3,7%) vượt ngưỡng kháng. Ngược lại, fluconazole có hoạt tính yếu hơn, với tỷ lệ vượt ngưỡng cao ở M. furfur (58,3%) và M. globosa (48,1%), trong khi M. dermatis hoàn toàn nhạy. Có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa các loài về giá trị MIC đối với cả hai thuốc (p < 0,001). Kết luận: Khuynh hướng kháng fluconazole được ghi nhận rõ ở M. furfur và M. globosa, trong khi itraconazole vẫn duy trì hiệu quả cao và được xem là lựa chọn ưu tiên trong điều trị lang ben, đặc biệt ở các trường hợp tái phát hoặc đa loài. Kết quả nghiên cứu góp phần bổ sung dữ liệu trong nước về độ nhạy cảm kháng nấm của Malassezia, hỗ trợ định hướng lựa chọn liệu pháp phù hợp trong thực hành lâm sàng.
Chi tiết bài viết
Từ khóa
Malassezia spp., lang ben, Itraconazole, Fluconazole, kháng nấm in vitro.
Tài liệu tham khảo
2. Sharma A, Rabha D, Ahmed G. In vitro antifungal susceptibility of Malassezia isolates from pityriasis versicolor lesions. Indian J Dermatol Venereol Leprol. 2017;83(2):249–251. doi:10.4103/0378-6323.193617
3. Romald PN, Kindo AJ, Mahalakshmi V, et al. Epidemiological Pattern of Malassezia, its Phenotypic Identification and Antifungal Susceptibility Profile to Azoles by Broth Microdilution Method. Indian J Med Microbiol. 2020; 38(3-4): 351-356. doi:10.4103/ijmm. IJMM_20_106
4. Chebil W, Haouas N, Eskes E, et al. In Vitro Assessment of Azole and Amphotericin B Susceptibilities of Malassezia spp. Isolated from Healthy and Lesioned Skin. J Fungi Basel Switz. 2022;8(9):959. doi:10.3390/jof8090959
5. Trần Cẩm V. Xác định Malassezia trong bệnh lang ben và hiệu quả điều trị bằng thuốc kháng nấm nhóm azole .2017.
6. Gupta AK, Kohli Y, Batra R. Antifungal treatment for Malassezia infections. J Am Acad Dermatol. 2014;70(5): 772–778. doi:10.1016/ j.jaad.2013.12.020
7. Hamdino M, Saudy AA, El-Shahed LH, et al. Identification of Malassezia species isolated from some Malassezia-associated skin diseases. J Mycol Med. 2022;32(4):101301. doi:10.1016/j.mycmed. 2022.101301
8. Kim MH, Sohn KM, Oh BH, et al. In vitro antifungal susceptibility of Malassezia species isolated from human skin. Mycoses. 2018;61(8): 507–514. doi:10.1111/myc.12768