ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ, LÂM SÀNG VÀ CẬN LÂM SÀNG Ở TRẺ SỐC SỐT XUẤT HUYẾT DENGUE TẠI THỜI ĐIỂM VÀO SỐC: MỘT NGHIÊN CỨU MÔ TẢ CẮT NGANG

Ngô Trọng Khánh1, Nguyễn Thành Nam1,, Tạ Văn Trầm1
1 Bệnh viện Đa khoa Tiền Giang

Nội dung chính của bài viết

Tóm tắt

Đặt vấn đề: Sốc sốt xuất huyết Dengue (SXHD) là biểu hiện nặng nhất của bệnh, đặc trưng bởi thoát huyết tương cấp và rối loạn huyết động, đòi hỏi nhận diện và theo dõi sát ngay từ thời điểm vào sốc. Việc mô tả các đặc điểm dịch tễ, nhân trắc và cận lâm sàng tại thời điểm này có ý nghĩa quan trọng trong đánh giá mức độ nặng và định hướng xử trí. Mục tiêu: Mô tả đặc điểm dịch tễ, lâm sàng và cận lâm sàng ở trẻ sốc SXHD tại thời điểm vào sốc. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang, kết hợp hồi cứu và tiến cứu, thực hiện trên 96 trẻ <16 tuổi được chẩn đoán sốc SXHD tại Bệnh viện Đa khoa Tiền Giang từ 07/2023–07/2025. Các biến số được thu thập tại thời điểm vào sốc bao gồm đặc điểm dịch tễ–nhân trắc, lâm sàng và cận lâm sàng (huyết học, lactate máu, khí máu động mạch, men gan và siêu âm tràn dịch). Kết quả: Tuổi trung bình là 11,2±2,7, nhóm 6–12 tuổi chiếm 59,4%, nam 57,3%, và thừa cân–béo phì 49,0%. Sốc xảy ra chủ yếu vào ngày bệnh 4–5 (84,4%); 76,0% là sốc SXHD và 24,0% sốc SXHD nặng. Tại thời điểm vào sốc, bệnh nhi có Hct 49,1±4,0%, bạch cầu 4.270±2.063/mm³, tiểu cầu 35.960±17.451/mm³, lactate 2,7±1,4 mmol/L. Khí máu động mạch cho thấy rối loạn kiềm–toan hỗn hợp mức độ nhẹ (PaCO₂ 29,9±5,2 mmHg; HCO₃⁻ 19,3±3,1 mmol/L; BE −5,2±3,4 mmol/L). Men gan tăng với AST trội hơn ALT (192,5±281,8 U/L so với 90,9±135,4 U/L). Siêu âm ghi nhận tràn dịch màng bụng chủ yếu mức độ nhẹ và trung bình (92,7%). Kết luận: Trẻ sốc SXHD tại thời điểm vào sốc chủ yếu thuộc nhóm tuổi học đường, có tỷ lệ thừa cân–béo phì cao và biểu hiện cận lâm sàng đặc trưng gồm cô đặc máu, giảm tiểu cầu, tăng lactate, rối loạn kiềm–toan nhẹ và thoát huyết tương. Các kết quả này phản ánh rõ sinh lý bệnh của sốc SXHD và nhấn mạnh vai trò của đánh giá toàn diện ngay khi vào sốc để tối ưu hóa theo dõi và điều trị.

Chi tiết bài viết

Tài liệu tham khảo

1. World Health Organization. Dengue: guidelines for diagnosis, treatment, prevention and control: new edition. Geneva: World Health Organization; 2009.
2. Lâm Thị Huệ. Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng, đánh giá kết quả điều trị và mối liên quan giữa tổn thương gan với biến chứng sốt xuất huyết Dengue ở trẻ em tại Bệnh viện Nhi đồng Cần Thơ năm 2018-2020 [luận văn]. Cần Thơ: Bệnh viện Nhi đồng Cần Thơ; 2020.
3. Nguyễn Khánh Toàn, Nguyễn Phương Tâm. Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và một số yếu tố tiên lượng sốt xuất huyết Dengue nặng ở trẻ em. Tạp chí Y Dược học Cần Thơ. 2024;(81):200-6. doi:10.58490/ctump.2024i81.3018.
4. Văn Thị Cẩm Thanh. Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và điều trị bệnh nhân sốt xuất huyết Dengue nặng có sốc tại Bệnh viện Nhi Đồng 2 từ 01/01/2015 đến 31/12/2016 [luận văn]. TP Hồ Chí Minh: Bệnh viện Nhi Đồng 2; 2018.
5. Le Phuoc Truyen, Phung Nguyen The Nguyen. Prognostic value of N-terminal pro B-type natriuretic peptide and troponin I in children with dengue shock syndrome. Asian Pac J Trop Med. 2024;17(4):166-72. doi:10.4103/apjtm.apjtm_871_23. PMID:01542552-202417040-00003.
6. Zulkipli MS, Dahlui M, Jamil N, et al. The association between obesity and dengue severity among pediatric patients: a systematic review and meta-analysis. PLoS Negl Trop Dis. 2018;12(2):e0006263. doi:10.1371/journal.pntd.0006263.
7. Nguyen Tat T, Vo Hoang-Thien N, Nguyen Tat D, et al. Prognostic values of serum lactate-to-bicarbonate ratio and lactate for predicting 28-day in-hospital mortality in children with dengue shock syndrome. Medicine (Baltimore). 2024;103(17):e38000. doi:10.1097/MD.0000000000038000.
8. Lê Thanh Nhàn. Khảo sát nồng độ Interleukin 6 và Interleukin 10 trong sốc sốt xuất huyết Dengue tại Bệnh viện Nhi đồng 1 từ năm 2019-2020 [luận văn chuyên khoa cấp II]. TP Hồ Chí Minh: Bệnh viện Nhi đồng 1; 2020.