MỐI LIÊN QUAN GIỮA TYPE HPV VÀ MỨC ĐỘ NẶNG, DIỄN TIẾN SAU ĐIỀU TRỊ Ở BỆNH NHÂN U NHÚ THANH QUẢN TẠI BỆNH VIỆN TAI MŨI HỌNG TP. HỒ CHÍ MINH

Nguyễn Thành Tuấn1,2,
1 Đại học Khoa Học Sức Khỏe - Đại học Quốc Gia TP. Hồ Chí Minh
2 Bệnh viện Tai Mũi Họng TP.HCM

Nội dung chính của bài viết

Tóm tắt

Đặt vấn đề: U nhú thanh quản là tổn thương lành tính do sự quá sản các tế bào vảy hình thành các nhú nhô lên bề mặt biểu mô đường hô hấp, có đặc điểm tái phát nhiều lần, ảnh hưởng đáng kể đến đường thở, chất lượng giọng nói và chất lượng sống. Mục tiêu: Khảo sát mối liên quan giữa type HPV với mức độ nặng lâm sàng, thể bệnh và diễn tiến sau điều trị 12 tháng ở bệnh nhân u nhú thanh quản. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu được thiết kế dưới dạng tiến cứu, mô tả hàng loạt ca bệnh, thực hiện trên tổng cộng 40 bệnh nhân được chẩn đoán u nhú thanh quản và theo dõi tại Bệnh viện Tai Mũi Họng TP. Hồ Chí Minh. Các bệnh nhân được phân thành hai nhóm tuổi: trẻ em (<16 tuổi) và người lớn (≥16 tuổi). Chẩn đoán được xác lập dựa trên mô bệnh học, đồng thời thực hiện xét nghiệm định type HPV. Các biến số chính được phân tích bao gồm: mức độ khó thở, thể lâm sàng (khu trú hoặc lan tỏa), diễn tiến sau điều trị trong 12 tháng (gồm thoái triển, tái phát hoặc ung thư hóa), và di chứng sau điều trị. Kết quả: Tỷ lệ phát hiện HPV là 77,5% (trẻ em 89,5%, người lớn 66,7%). HPV11 chiếm ưu thế ở cả hai nhóm tuổi, với nhiều trường hợp đồng nhiễm. Ở trẻ em, HPV11 liên quan đến khó thở độ 1–2 và thể lan tỏa. Ở người lớn, thể lan tỏa liên quan có ý nghĩa thống kê với HPV11 và HPV16/18 (p<0,01; OR=9; KTC 95%: 1,1–217). Sau 12 tháng, tái phát cao nhất ở nhóm HPV11 (64,7% ở trẻ em, 24,4% ở người lớn); ung thư hóa gặp ở nhóm HPV âm tính (7,3%) và HPV11 (2,4%). Di chứng chủ yếu liên quan đến HPV11. Kết luận: HPV11 là type trội, liên quan đến bệnh cảnh nặng và nguy cơ tái phát cao, đặc biệt ở trẻ em. Ung thư hóa ghi nhận chủ yếu ở người lớn không phát hiện HPV. Việc định type HPV có giá trị trong phân tầng nguy cơ và theo dõi lâm sàng.

Chi tiết bài viết

Tài liệu tham khảo

1. Venkatesan NN, Pine HS, Underbrink MP. Recurrent respiratory papillomatosis. Otolaryngologic clinics of North America. Jun 2012;45(3):671-94, viii-ix. doi:10.1016/j.otc.2012.03.006
2. Goon P, Sonnex C, Jani P, Stanley M, Sudhoff HJEaoo-r-l. Recurrent respiratory papillomatosis: an overview of current thinking and treatment. 2008;265(2):147-151.
3. Derkay CS, Wiatrak BJTL. Recurrent respiratory papillomatosis: a review. 2008;118(7):1236-1247.
4. Larson DA, Derkay CSJA. Epidemiology of recurrent respiratory papillomatosis. 2010;118(6‐7):450-454.
5. Dikkers FG, Tjon Pian Gi REA, San Giorgi MRM. Recurrent Respiratory Papillomatosis and Human Papillomavirus. In: Durand ML, Deschler DG, eds. Infections of the Ears, Nose, Throat, and Sinuses. Springer Nature Switzerland; 2024:321-333.
6. Mehanna R, Kuo M. Juvenile-Onset Recurrent Respiratory Papillomatosis. Scott-Brown's Otorhinolaryngology and Head and Neck Surgery. CRC Press; 2018:367-376.
7. Gerein V, Rastorguev E, Gerein J, Draf W, Schirren JJOH, Surgery N. Incidence, age at onset, and potential reasons of malignant transformation in recurrent respiratory papillomatosis patients: 20 years experience. 2005;132(3):392-394.
8. Armstrong Lr, Derkay Cs, Reeves Wcjsoa. Initial Results from the National Registry for Juvenile-Onset Recurrent Respiratory Papillomatosis. 2000;44(2):92-93.