CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ HỞ THÀNH BỤNG Ở TRẺ SƠ SINH TẠI BỆNH VIỆN NHI ĐỒNG 1

Nguyễn Đức Toàn1,2, , Châu Hồng Thương1, Tăng Chí Thượng3, Phạm Thị Thanh Tâm1
1 Bệnh viện Nhi Đồng 1
2 Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch
3 Sở Y tế TP. Hồ Chí Minh

Nội dung chính của bài viết

Tóm tắt

Đặt vấn đề: Hở thành bụng là một dị tật bẩm sinh của thành bụng, thường nằm bên phải đường giữa, do rối loạn phát triển bào thai làm các cơ quan trong ổ bụng không trở về khoang bụng bình thường. Trên siêu âm, bệnh được phát hiện qua hình ảnh các tạng và ruột thoát vị tự do trong khoang ối, không được bao phủ bởi màng; các cấu trúc thoát vị chủ yếu là ruột non, ngoài ra có thể gặp dạ dày, đại tràng và hiếm hơn là tuyến sinh dục [4,5]. Trên thế giới, một nghiên cứu năm 2023 báo cáo tỷ lệ mắc hở thành bụng là 3,3 trên 10.000 ca sinh sống [3]. Tại Việt Nam, dữ liệu còn hạn chế, nhưng nghiên cứu của Hoàng Trường và cộng sự ước tính tỷ lệ này là 1,43 trên 10.000 ca sinh sống giai đoạn 2007–2010 [6]. Nghiên cứu được thực hiện nhằm xác định các yếu tố liên quan đến kết quả điều trị ở trẻ sơ sinh mắc hở thành bụng.


Mục tiêu: Xác định các yếu tố liên quan đến kết quả điều trị hở thành bụng ở trẻ sơ sinh tại Bệnh viện Nhi Đồng 1.


Phương pháp: Mô tả loạt ca từ 01/01/2020 đến 30/06/2025 tại Bệnh viện Nhi Đồng 1.


Kết quả: Có 61 trường hợp hở thành bụng ở trẻ sơ sinh trong thời gian nghiên cứu. Tỷ lệ nam/nữ là 1,1/1, tuổi thai có trung vị 36,3 tuần (35,0 – 37,5 tuần), cân nặng lúc sinh có trung vị 2140 g (1900 – 2400 g), sinh mổ chiếm 50,8%, tỷ lệ chẩn đoán tiền sản là 85,2%, tuổi mẹ có trung vị 21,0 tuổi (19,0 – 24,0 tuổi). Phân độ tổn thương ruột trong hở thành bụng ở trẻ sơ sinh như sau: độ I (86,9%), độ II (9,8%), độ III (3,3%). Các dị tật bẩm sinh kèm theo gồm tim bẩm sinh (1,7%), teo ruột non (1,7%). Về đặc điểm lâm sàng lúc nhập viện và an toàn chuyển viện gồm suy hô hấp (77,0%), sốc (14,6%), hạ thân nhiệt (85,2%), thủng ruột (8,2%), bọc túi plastic vô khuẩn (50,8%), đắp gạc ẩm vô khuẩn (42,6%), không bù dịch (4,9%). Về phẫu thuật, thời gian đặt túi silo trung vị 5,0 ngày (4,0 – 5,0 ngày), đặt túi silo và không được mổ chiếm 3,3%. Về đặc điểm lâm sàng và biến chứng sau mổ: nhiễm trùng vết mổ (21,3%), viêm màng não (21,3%), viêm phổi (9,8%), tắc ruột (9,8%), viêm ruột hoại tử (9,8%), hội chứng ruột ngắn (3,3%), thời gian thở máy trung vị 5,0 ngày (4,0 – 8,0 ngày), thời gian bắt đầu dinh dưỡng tiêu hóa (từ ngày hậu phẫu) là 7,0 ngày (6,0 – 10,0 ngày), thời gian đạt dinh dưỡng tiêu hóa hoàn toàn là 15,0 ngày (10,0 – 18,5 ngày), thời gian nuôi ăn tĩnh mạch 18,5 ngày (15,0 – 25,0 ngày). Thời gian nằm viện trung vị 30,0 ngày (23,0 – 40,0 ngày). Tỷ lệ tử vong là 3,3%, nguyên nhân tử vong là bệnh màng trong (1,6%), sốc nhiễm trùng (1,6%). Như vậy, chúng tôi ghi nhận thời gian nằm viện kéo dài >30 ngày là kết cục nổi bật nhất trong nghiên cứu này. Phân tích đơn biến các yếu tố liên quan tới thời gian nằm viện kéo dài > 30 ngày là non tháng, nhẹ cân so với tuổi thai, toan chuyển hóa nặng kéo dài, thời gian đặt túi silo, thời gian thở máy xâm lấn, thời gian bắt đầu dinh dưỡng tiêu hóa sau phẫu thuật và thời gian nuôi ăn tĩnh mạch.


Kết luận: Thực hiện phân tích đa biến bằng mô hình logistic đa biến, các yếu tố thực sự liên quan tới thời gian nằm viện kéo dài > 30 ngày là non tháng, nhẹ cân so với tuổi thai và toan chuyển hóa nặng kéo dài. Việc nhận diện sớm các yếu tố nguy cơ này có ý nghĩa quan trọng trong phân tầng nguy cơ, tối ưu hóa chiến lược điều trị và góp phần rút ngắn thời gian nằm viện, cải thiện kết quả điều trị cho trẻ sơ sinh hở thành bụng.

Chi tiết bài viết

Tài liệu tham khảo

1. Hồ Tấn Thanh Bình. Các đặc điểm trong hồi sức nội khoa hở thành bụng bẩm sinh tại Bệnh viện Nhi Đồng 1 từ tháng 5/2006–tháng 3/2007. Hội nghị nhi khoa Bệnh viện Nhi Đồng 1. 2007.
2. Trần Sỹ Giảng và cộng sự. Điều trị khe hở thành bụng bẩm sinh tại Bệnh viện Nhi Trung ương từ 2018 – 2023. Tạp chí Y Học Việt Nam. 2025;555(3).
3. Baker M, Smith J, et al. Global Incidence of Gastroschisis: A Comprehensive Review. Journal of Pediatric Surgery. 2023;58(4):701–710.
4. Bielicki IN, Somme S, et al. Abdominal Wall Defects–Current Treatments. Children (Basel). Feb 23 2021;8(2):170.
5. Hawkins RB, Raymond SL, et al. Immediate versus silo closure for gastroschisis: Results of a large multicenter study. J Pediatr Surg. Jul 2020;55(7):1280–1285.
6. Hoang T, Nguyen DT, et al. External birth defects in Southern Vietnam: a population–based study at the grassroots level of health care in Binh Thuan Province. BMC Pediatr. Apr 30 2013;13:67.
7. Gom, et al. Characteristics and outcomes of neonates with gastroschisis managed in a public tertiary hospital in a developing country. South African Journal of Child Health.2019;13(4):160–166.