HÌNH THÁI HỌC NỀN SỌ TRƯỚC QUA CẮT LỚP VI TÍNH: MỐI TƯƠNG QUAN TUYẾN TÍNH GIỮA CHIỀU CAO HỐ KHỨU VÀ GÓC NGHIÊNG MẢNH BÊN XƯƠNG SÀNG

Nguyễn Thị Kiều Thơ1,2, , Nguyễn Đình Chương1,2
1 Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh
2 Bệnh viện Nhân Dân Gia Định

Nội dung chính của bài viết

Tóm tắt

Mục tiêu: Xác định mối tương quan giữa chiều cao hố khứu (theo phân loại Keros) và góc nghiêng mảnh bên xương sàng (theo phân loại Gera) trên hình ảnh cắt lớp vi tính, từ đó phân tích các đặc điểm giải phẫu liên quan đến nguy cơ tổn thương nền sọ trong phẫu thuật nội soi.


Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích trên 298 bên xoang của 149 bệnh nhân trưởng thành được chụp Cắt lớp vi tính đa dãy tại Bệnh viện Nhân Dân Gia Định từ tháng 06/2024 đến tháng 06/2025. Chiều cao hố khứu và góc nghiêng mảnh bên được đo đạc trên bình diện coronal. Mối liên quan giữa hai biến số được đánh giá bằng hệ số tương quan Pearson và kiểm định Chi-bình phương.


Kết quả: Phân loại Keros loại 2 (69,5%) và Gera loại B (78,2%) chiếm tỷ lệ phổ biến nhất. Nghiên cứu ghi nhận mối tương quan thuận tuyến tính có ý nghĩa thống kê giữa chiều cao hố khứu và góc nghiêng mảnh bên (r = 0,240; p < 0,001). Giá trị trung bình của góc mảnh bên tăng dần theo độ sâu hố khứu: thấp nhất ở nhóm Keros loại 1 (56,8° ± 15,2°) và cao nhất ở nhóm Keros loại 3 (69,9° ± 10,5°). Đáng chú ý, nhóm Keros Loại 1 (hố khứu nông) có tỷ lệ đi kèm với góc nghiêng nguy hiểm (Gera loại C < 45°) cao nhất, chiếm 25,0%; trong khi nhóm Keros loại 3 không ghi nhận trường hợp nào có góc nghiêng thấp.


Kết luận: Tồn tại cơ chế bù trừ hình thái học tự nhiên của nền sọ: hố khứu càng nông thì mảnh bên càng có xu hướng nằm thoải ngang, và hố khứu càng sâu thì mảnh bên càng đứng thẳng. Kết quả này cảnh báo nguy cơ tổn thương nền sọ tiềm ẩn ở nhóm bệnh nhân Keros Loại 1 do góc tiếp cận thấp của mảnh bên, đòi hỏi phẫu thuật viên cần tích hợp đánh giá cả độ sâu và độ dốc trên phim CT tiền phẫu.

Chi tiết bài viết

Tài liệu tham khảo

1. Abdullah B, Chew SC, Aziz ME, Shukri NM, Husain S, Joshua SW, et al. A new radiological classification for the risk assessment of anterior skull base injury in endoscopic sinus surgery. Scientific reports. 2020;10(1):4600.
2. Gera R, Mozzanica F, Karligkiotis A, Preti A, Bandi F, Gallo S, et al. Lateral lamella of the cribriform plate, a keystone landmark: proposal for a novel classification system. Rhinology. 2018;56(1):65–72.
3. Güldner C, Zimmermann AP, Diogo I, Werner JA, Teymoortash A. Age-dependent differences of the anterior skull base. International journal of pediatric otorhinolaryngology. 2012;76(6):822–8.
4. Kainz J, Stammberger H. The roof of the anterior ethmoid: a place of least resistance in the skull base. American Journal of Rhinology. 1989;3(4):191–9.
5. Keros P. On the practical value of differences in the level of the lamina cribrosa of the ethmoid. Zeitschrift fur Laryngologie, Rhinologie, Otologie und ihre Grenzgebiete. 1962;41:809–13.
6. Solares CA, Lee WT, Batra PS, Citardi MJ. Lateral lamella of the cribriform plate: software-enabled computed tomographic analysis and its clinical relevance in skull base surgery. Archives of Otolaryngology–Head & Neck Surgery. 2008;134(3):285–9.
7. Son S-J, Koo H-B, Yoon K, Lee J-H. Validation of the Correlation between Keros and Gera Classification in Endoscopic Sinus Surgery in Koreans. Journal of Clinical Otolaryngology Head and Neck Surgery. 2024;35(4):145–51.
8. Stammberger H. Special endoscopic anatomy of the lateral nasal wall and ethmoidal sinuses. Functional Endoscopic Sinus Surgery Philadelphia: BC Dekker. 1991:49–65.