CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG VÀ CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN Ở NGƯỜI BỆNH UNG THƯ VÚ CHƯA MÃN KINH GIAI ĐOẠN II-III ĐIỀU TRỊ BẰNG ỨC CHẾ BUỒNG TRỨNG VÀ THUỐC NỘI TIẾT BỔ TRỢ BẬC II

Thân Văn Thịnh1,, Nguyễn Mai Chinh1, Vũ Văn Thạch1
1 Bệnh viện Ung bướu Hà Nội

Nội dung chính của bài viết

Tóm tắt

Đặt vấn đề: Ung thư vú (UTV) dương tính với thụ thể nội tiết (TTNT) là phân nhóm phổ biến nhất. Nhóm BN giai đoạn II–III thường phải điều trị đa mô thức (phẫu thuật, hóa trị, xạ trị, OFS và nội tiết kéo dài). Ở giai đoạn này, bệnh nhân (BN) thường chịu nhiều tác dụng phụ tích lũy như rối loạn vận mạch, đau cơ xương khớp, suy giảm chức năng sinh lý và các rối loạn tâm lý, dẫn tới suy giảm đáng kể chất lượng cuộ sống (CLCS) so với giai đoạn I. Đối tượng và phương pháp: 103 bệnh nhân UTV chưa mãn kinh giai đoạn II-III điều trị tại Bệnh viện Ung Bướu Hà Nội, từ tháng 4/2024 đến tháng 12 /2024. Kết quả: Tuổi trung bình 42,2 ± 4,8 tuổi. Ung thư biểu mô ống xâm nhập chiếm ưu thế (77,7%), chỉ số Ki-67 trung bình 28,6 ± 19,6; ER và PR dương tính lần lượt 99,1% và 86,0%. Thời gian điều trị nội tiết (AI kết hợp ức chế buồng trứng) trung bình là 16,2 ± 14,4 tháng, nhóm điều trị >6 tháng chiếm 69,9%. Tác dụng không mong muốn ghi nhận nhiều nhất là đau cơ xương khớp (53,4%) và bốc hỏa (77,7%). Tổng điểm chất lượng cuộc sống theo FACT-ES có trung vị 64,0 (IQR 44,5–83,3). Hai yếu tố có mối liên quan có ý nghĩa thống kê với điểm FACT-ES là: Trầm cảm (PHQ-9 ≥10): β = 32 (KTC 95%: 12–53; p = 0,002); Rối loạn giấc ngủ (ISI ≥8): β = 14 (KTC 95%: 1,7–26; p = 0,026). Kết luận: Mặc dù có vai trò quan trọng, OFS và/hoặc AIs cũng đi kèm với nhiều tác dụng phụ khác nhau có thể ảnh hưởng tiêu cực đáng kể đến chất lượng cuộc sống của bệnh nhân nếu không được quản lý đúng cách và có thể dẫn đến ngừng điều trị sớm. Cần có chiến lược hỗ trợ thích hợp để giảm nhẹ ảnh hưởng tiêu cực và cải thiện trải nghiệm điều trị cho người bệnh

Chi tiết bài viết

Tài liệu tham khảo

Giaquinto AN, Sung H, Miller KD, et al. Breast Cancer Statistics, 2022. CA Cancer J Clin. 2022;72(6):524-541. doi:10.3322/caac.21754
2. Gradishar WJ, Moran MS, Abraham J, et al. Breast Cancer, Version 3.2022, NCCN Clinical Practice Guidelines in Oncology. J Natl Compr Cancer Netw JNCCN. 2022;20(6):691-722. doi:10.6004/jnccn.2022.0030.
3. Lim YX, Lim ZL, Ho PJ, Li J. Breast Cancer in Asia: Incidence, Mortality, Early Detection, Mammography Programs, and Risk-Based Screening Initiatives. Cancers. 2022;14(17):4218. doi:10.3390/cancers14174218.
4. Trịnh Lê Huy, Mai Thị Kim Ngân. Đánh giá kết quả điều trị ung thư vú giai đoạn I-III tại bệnh viện Đại học Y Hà Nội. Tạp Chí Học Việt Nam. 2022;510(2). doi:10.51298/vmj.v510i2.2019.
5. Nguyễn Văn Khoa, Hoàng Quang Trung, Lê Ngọc Thanh, Võ Văn Phương, Nguyễn Ngọc Thịnh, Trịnh Lê Huy. Đánh giá kết quả điều trị ung thư vú giai đoạn I-III tại bệnh viện Đa khoa Hà Tĩnh từ 2017-2021. Tạp Chí Học Việt Nam. 2023;529(2). doi:10.51298/vmj.v529i2.6523.
6. Vũ Minh Tuấn, Vũ Xuân Thịnh, Phạm Tùng Sơn, et al. Chất lượng cuộc sống của người bệnh ung thư vú tại Bệnh viện K cơ sở Tân Triều Hà Nội. Tạp Chí Khoa Học Điều Dưỡng. 2024;7(03):53-63. doi:10.54436/jns.2024.03.804
7. Lebel S, Maheu C, Lefebvre M, et al. Addressing fear of cancer recurrence among women with cancer: a feasibility and preliminary outcome study. J Cancer Surviv. 2014;8(3):485-496. doi:10.1007/s11764-014-0357-3.
8. Ganz PA, Petersen L, Bower JE, Crespi CM. Impact of Adjuvant Endocrine Therapy on Quality of Life and Symptoms: Observational Data Over 12 Months From the Mind-Body Study. J Clin Oncol Off J Am Soc Clin Oncol. 2016;34(8):816-824. doi:10.1200/JCO.2015.64.3866.