ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, CẬN LÂM SÀNG BỆNH NHÂN CHẤN THƯƠNG ĐỘNG MẠCH KHOEO ĐƯỢC CHẨN ĐOÁN VÀ ĐIỀU TRỊ TẠI BỆNH VIỆN ĐẠI HỌC VÕ TRƯỜNG TOẢN NĂM 2020 – 2024

Mai Trọng Nguyễn1, Trần Hoàng Anh1,
1 Trường Đại học Võ Trường Toản

Nội dung chính của bài viết

Tóm tắt

Mục tiêu: Mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng bệnh nhân chấn thương động mạch khoeo tại Bệnh viện Đại học Võ Trường Toản năm 2020-2024.


Phương pháp: Thiết kế nghiên cứu hồi cứu mô tả, trên 30 bệnh nhân từ 16 tuổi trở lên được chẩn đoán chấn thương động mạch khoeo và được điều trị tại Bệnh viện Đại học Võ Trường Toản từ 1/1/2020 đến 30/12/2024.


Kết quả: Gãy xương hở chiếm tỷ lệ cao (86,67%). Triệu chứng lâm sàng thường gặp nhất trước mổ là mất mạch (73,33%), kèm các dấu hiệu thiếu máu chi như nhợt màu, lạnh chi và dị cảm. Phần lớn bệnh nhân có chỉ số MESS ≤ 7 điểm (73,33%), ít gặp sốc chấn thương (6,67%) và chèn ép khoang (13,33%). Thời gian phẫu thuật trung bình là 148,33 ± 57,15 phút, thời gian phục hồi lưu thông trung bình là 125,42 ± 53,52 phút. Trên cận lâm sàng, hình ảnh mất tín hiệu động mạch khoeo trên CTA chiếm tỷ lệ cao nhất (53,33%). Gãy mâm chày là vị trí gãy xương thường gặp nhất trên phim X-quang (66,67%).


Kết luận: Chấn thương động mạch khoeo chủ yếu liên quan đến gãy xương hở, với biểu hiện lâm sàng điển hình là mất mạch và dấu hiệu thiếu máu chi. Phần lớn bệnh nhân có mức độ tổn thương không quá nặng (MESS ≤ 7), ít gặp biến chứng nặng như sốc hay chèn ép khoang. Hình ảnh CTA thường ghi nhận mất tín hiệu động mạch khoeo, và gãy mâm chày là tổn thương xương hay gặp. Thời gian phẫu thuật và phục hồi lưu thông tương đối kéo dài.

Chi tiết bài viết

Tài liệu tham khảo

1. Hoàng Anh Công, Nguyễn Hữu Ước, Bùi Thanh Danh (2021), “Đặc điểm lâm sàng, hình thái tổn thương và kết quả điều trị chấn thương, vết thương động mạch chi dưới tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Tiệp”, Tạp chí Phẫu thuật tim mạch và lồng ngực Việt Nam, (34), tr. 99–106.
2. Nguyễn Sinh Hiền và cộng sự (2000), “Tổn thương mạch khoeo trong chấn thương kín: những khó khăn trong chẩn đoán và điều trị”, Tạp chí Ngoại khoa, 3, tr. 29–37.
3. Lê Minh Hoàng (2015), Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và điều trị tổn thương động mạch lớn trong gãy xương, sai khớp chi dưới, Luận án Tiến sĩ Y học, Học viện Quân y, Hà Nội.
4. Hồ Minh Huế, Trần Minh Hoàng, Đặng Nguyễn Trung An, Nguyễn Quang Thái Dương (2022), “Đặc điểm chụp cắt lớp vi tính chi dưới trong chấn thương động mạch khoeo”, Tạp chí Y học TP. Hồ Chí Minh, 26(2), tr. 48–54.
5. Nguyễn Thành Tấn, Liêu Vĩnh Đạt và cộng sự (2021), “Biến chứng gãy xương”, Ngoại bệnh lý, Tập 2, tr. 101–112.
6. Vũ Ngọc Tú, Trần Trung Kiên, Phùng Duy Hồng Sơn (2023), “Phẫu thuật điều trị chấn thương động mạch khoeo tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức giai đoạn 2017–2019”, Tạp chí Y học Việt Nam, Tập 526, tr. 374–379.
7. Nguyễn Anh Tuấn (2023), Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và đánh giá kết quả điều trị tổn thương động mạch khoeo trong chấn thương vùng gối tại Bệnh viện Đa khoa Trung ương Cần Thơ năm 2021–2023, Luận văn Bác sĩ nội trú, Trường Đại học Y Dược Cần Thơ.
8. Boisrenoulta P. (2009), “Vascular lesions associated with bicruciate and knee dislocation ligamentous injury”, Orthopaedics & Traumatology: Surgery & Research, (95), pp. 621–626.
9. Gratl A., Kluckner M., Gruber L. et al. (2022), “The Mangled Extremity Severity Score (MESS) does not predict amputation in popliteal artery injury”, European Journal of Trauma and Emergency Surgery, (46), pp. 30–43.