ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ MÔ BỆNH HỌC SAU ĐIỀU TRỊ VÀ CÁC Biện PHÁP XỬ TRÍ TIẾP THEO Ở BỆNH NHÂN TỔN THƯƠNG TIỀN UNG THƯ CỔ TỬ CUNG TẠI BỆNH VIỆN PHỤ SẢN TRUNG ƯƠNG NĂM 2024

Lê Quang Vinh1, , Lê Hoàng Linh2, Nguyễn Thu Thủy Tiên3, Nguyễn Thị Trang1, Nguyễn Thị Hằng4, Phạm Tiến Anh1, Phạm Tiến Dưỡng5, Nguyễn Văn Thắng2
1 Bệnh viện đa khoa Quốc tế Vinmec Time City
2 Bệnh viện Phụ sản Trung ương
3 Đại học Y Hà Nội
4 Bệnh viện đa khoa Quốc tế Vinmec Nha Trang
5 Bệnh viện Phụ sản Hải Phòng

Nội dung chính của bài viết

Tóm tắt

Mục tiêu: Nhận xét kết quả mô bệnh học với can thiệp các tổn thương tiền ung thư cổ tử cung.


Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang hồi cứu kết hợp theo dõi dọc sau khi có kết quả mô bệnh học, được thực hiện trên 296 bệnh nhân có tổn thương cổ tử cung điều trị tại khoa Phụ ung thư, Bệnh viện Phụ sản Trung ương từ tháng 01/2024 đến tháng 12/2024. Các bệnh nhân có đầy đủ xét nghiệm tế bào học cổ tử cung, HPV định type và kết quả giải phẫu bệnh sau can thiệp. Số liệu được thu thập từ hồ sơ bệnh án và xử lý bằng phần mềm SPSS.


Kết quả:  Kết quả sinh thiết ban đầu cho thấy CIN I chiếm 37,5%, CIN II chiếm 25,3% và CIN III chiếm 37,2%; không ghi nhận trường hợp ung thư xâm lấn. Phương pháp điều trị chủ yếu là LEEP (59,8%), tiếp theo là dao lạnh (20,9%) và cắt tử cung (13,2%). Đối với CIN II và CIN III, LEEP là phương pháp được chỉ định nhiều nhất với tỷ lệ lần lượt là 81,3% và 89,1%. Sau điều trị lần đầu, 34,8% bệnh nhân có kết quả mô bệnh học âm tính; 64,3% vẫn còn tổn thương tiền ung thư, trong đó có 3 trường hợp (1%) phát hiện ung thư xâm lấn. Sau điều trị lần đầu, 85,8% bệnh nhân được theo dõi định kỳ, trong khi 14,2% cần can thiệp tiếp theo bằng LEEP, cắt tử cung hoặc xạ trị


Kết luận: LEEP là phương pháp điều trị được lựa chọn chủ yếu trong xử trí tổn thương tiền ung thư cổ tử cung. Tỷ lệ tồn dư tổn thương sau điều trị lần đầu còn cao, đặc biệt ở nhóm CIN II–III, 3 trường hợp (1%) phát hiện ung thư xâm lấn, cho thấy cần tối ưu hóa kỹ thuật điều trị và theo dõi sau can thiệp nhằm giảm nguy cơ tồn dư hoặc tiến triển thành ung thư xâm lấn.

Chi tiết bài viết

Tài liệu tham khảo

1. Bộ Y tế (2016). Quyết định số 5240/QĐ-BYT ngày 23/9/2016 về việc phê duyệt tài liệu “Kế hoạch Hành động quốc gia về dự phòng và kiểm soát ung thư cổ tử cung giai đoạn 2016-2025”. Hà Nội, tháng 9 năm 2016.
2. Ferlay J, Colombet M, Soerjomataram I. et al (2018). Estimating the global cancer incidence and mortality in 2018: GLOBOCAN sources and methods. Int J Cancer, 2019;144 (8):1941-1953.
3. Châu Khắc Tú và Nguyễn Vũ Quốc Huy (2011). Ung thư cổ tử cung - từ dự phòng đến can thiệp sớm, Nhà xuất bản Đại học Huế, Thừa Thiên Huế.
4. WHO/ICO Information Centre on HPV and Cervical Cancer (HPV Information Centre) (2011). Human Papillomavirus and Related Cancers in Viet Nam. Summary Report 2010, Accessed on 12 September 2011.
5. Nayar R, Wilbur DC (2015). The Pap test and Bethesda 2014. Cancer Cytopathol, 2015;123(5):271-281.