TÁC DỤNG LÀM MỀM, MỞ CỔ TỬ CUNG CỦA BÓNG COOK CẢI TIẾN TRONG GÂY CHUYỂN DẠ TẠI BỆNH VIỆN PHỤ SẢN NAM ĐỊNH

Lê Thị Thanh Vân1, , Nguyễn Bích Hồng2, Nguyễn Mạnh Hùng1
1 Bệnh viện Quốc tế Mặt Trời
2 Trường Đại học Điều dưỡng Nam Định

Nội dung chính của bài viết

Tóm tắt

Mục tiêu: Đánh giá hiệu quả và một số yếu tố liên quan đến hiệu quả làm chín muồi cổ tử cung (CTC) của bóng Cook cải tiến.


Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả tiến cứu trên các sản phụ có chỉ định khởi phát chuyển dạ bằng bóng Cook cải tiến tại Bệnh viện Phụ sản Nam Định trong khoảng thời gian từ ngày 01/01/2026 đến 31/03/2026.


Kết quả: Có 42 sản phụ được đưa vào nghiên cứu. Tuổi trung bình của đối tượng nghiên cứu là 26,81±5,43 tuổi. Con so chiếm tỷ lệ chủ yếu 61,9%. Có 85,7% số trường hợp tuổi thai từ 40-41 tuần. Tất cả các trường hợp đều tăng chỉ số Bishop sau khi gây chuyển dạ, thay đổi 4 điểm có tỷ lệ nhiều nhất, chiếm 28,6%. Có 34 trường hợp gây chín muồi cổ tử cung thành công, chiếm 81% tổng số trường hợp; tỷ lệ thất bại là 19%. Có mối liên quan giữa kết quả khởi phát chuyển dạ với độ mở CTC, chỉ số Bishop trước đặt bóng. Sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê (do p > 0,05).


Kết luận: Tất cả những sản phụ đặt bóng Cook cải tiến khởi phát chuyển dạ đều tăng điểm của chỉ số Bishop và hiệu quả làm chín muồi CTC của bóng Cook cải tiến đạt tỷ lệ thành công cao (81%).

Chi tiết bài viết

Tài liệu tham khảo

1. Tolcher MC Holbert MR, Weaver AL, et al (2015). "Predicting cesarean delivery after induction of labor among nulliparous women at term.". Obstet Gynecol, 126, 1059 - 68
2. Vrouenraets Francis PJM, Frans JME Roumen, Cary JG Dehing, et al (2005). "Bishop score and risk of cesarean delivery after induction of labor in nulliparous women". Obstetrics & Gynecology, 105(4), 690- 697
3. Løkkegaard E, M Lundstrøm, MM Kjær, et al (2015). "Prospective multi-centre randomised trial comparing induction of labour with a double-balloon catheter versus dinoprostone". Journal of Obstetrics and Gynaecology, 35(8), 797-802.
4. Atad Jack, Jacob Bornstein, Ilan Calderon, et al (1991). "Nonpharmaceutical ripening of the unfavorable cervix and induction of labor by a novel double balloon device". Obstetrics and gynecology, 77(1), 146-152.
5. Mei-Dan Elad, Asnat Walfisch, Sivan Suarez-Easton, et al (2012). "Comparison of two mechanical devices for cervical ripening: a prospective quasi-randomized trial". The Journal of Maternal-Fetal & Neonatal Medicine, 25(6), 723-727.
6. Cromi Antonella, Fabio Ghezzi, Stefano Uccella, et al (2012). "A randomized trial of preinduction cervical ripening: dinoprostone vaginal insert versus double-balloon catheter". American journal of obstetrics and gynecology, 207(2), 125. e1-125. e7.
7. Kehl Sven, Christel Weiss, Ulf Dammer, et al (2016). "Double-balloon catheter and sequential oral misoprostol versus oral misoprostol alone for induction of labour at term: a retrospective cohort study". European Journal of Obstetrics & Gynecology and Reproductive Biology, 204, 78-82.
8. Bishop Edward H (1964). "Pelvic scoring for elective induction". Obstetrics & Gynecology, 24(2), 266-268.
9. TháiN. V., DũngT. H., HàN. T., & HươngT. T. (2021). Đánh giá hiệu quả khởi phát chuyển dạ của sonde Foley 2 bóng cải tiến trên thai quá ngày sinh tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108. Journal of 108 - Clinical Medicine and Phamarcy, 16(7). https://doi.org/10.52389/ydls.v16i7.906
10. Lam, Đ. T. P. (2013). Nhận xét hiệu quả gây chuyển dạ bằng đặt bóng cook cải tiến vào ống cổ tử cung. Tạp chí Phụ sản, 11(3), 45-47.