RỐI LOẠN CHẤT LƯỢNG GIẤC NGỦ TRÊN BỆNH NHÂN VẢY NẾN: MỘT NGHIÊN CỨU MÔ TẢ HÀNG LOẠT CA Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Nội dung chính của bài viết
Tóm tắt
Đặt vấn đề: Vảy nến là tình trạng viêm da phổ biến, không chỉ ảnh hưởng khu trú bên ngoài mà còn làm suy giảm chất lượng cuộc sống về cả thể chất lẫn tinh thần. Gần đây, nhiều nghiên cứu hướng sự quan tâm đến rối loạn giấc ngủ (RLGN) ở bệnh nhân vảy nến vì tình trạng này làm tăng nguy cơ khởi phát và làm nặng lên vảy nến thông qua các cytokine tiền viêm. Do đó, nghiên cứu này nhằm khảo sát mối liên quan giữa tình trạng RLGN và các yếu tố liên quan trên bệnh nhân vảy nến.
Đối tượng, phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả hàng loạt ca vảy nến mảng ≥ 18 tuổi có RLGN ở Bệnh viện Da Liễu Thành phố Hồ Chí Minh từ tháng 01/2025 đến tháng 10/2025. Đánh giá chất lượng giấc ngủ bằng bộ câu hỏi Chỉ số chất lượng giấc ngủ Pittsburgh (Pittsburgh Sleep Quality Index - PSQI) phiên bản tiếng Việt.
Kết quả: Nghiên cứu của chúng tôi gồm 101 bệnh nhân, trong đó 63 nam (62,4%), độ tuổi trung bình 50,24 ± 15,29 tuổi. Điểm số PSQI trung bình là 8,99 ± 3,51. RLGN mức độ nhẹ chiếm 64,36%, mức độ trung bình chiếm 28,71% và mức độ nặng chiếm 6,93%. Trong đó, tiêu chuẩn “Độ trễ giấc ngủ” được điểm cao nhất (2,19 ± 0,95). Có mối tương quan thuận giữa tuổi, thời gian mắc bệnh vảy nến và các mức độ RLGN theo thang điểm PSQI (p<0,05).
Kết luận: Rối loạn chất lượng giấc ngủ phổ biến ở bệnh nhân vảy nến lớn tuổi, có thời gian mắc bệnh kéo dài. Nên tiến hành thêm các nghiên cứu đoàn hệ với quy mô cỡ mẫu lớn hơn để khảo sát chính xác tác động của rối loạn chất lượng giấc ngủ theo thời gian diễn tiến bệnh vảy nến.
Từ khóa
Rối loạn chất lượng giấc ngủ, thang điểm Pittsburgh (PSQI), vảy nến
Chi tiết bài viết
Tài liệu tham khảo
2. C. Y. Đề Tế Công Cộng et al., “THANG ĐO CHẤT LƯỢNG GIẤC NGỦ PITTSBURGH PHIÊN BẢN TIẾNG VIỆT,” Tạp chí Y học Thành phố Hồ Chí Minh, vol. 18, no. 6, pp. 664–664, 2014, Accessed: Sep. 30, 2025. [Online]. Available: https://tapchiyhoctphcm.vn/articles/13223
3. K. Vlami et al., “Psoriatic Insomnia: A Subjective and Objective Sleep Evaluation,” Acta Derm Venereol, vol. 103, 2023, doi: 10.2340/ACTADV.V103.4507.
4. Nguyễn Thị Thủy, “Khảo sát về vấn đề mất ngủ trên bệnh nhân vảy nến thể thông thường,” DHQG-Hanoi, 2020.
5. T. Nguyên, Á. Tú, N. T. Hào, and V. Em, “Yếu tố liên quan và đặc điểm lâm sàng của bệnh nhân vảy nến thông thường đến khám tại Bệnh viện Da liễu Thành phố Hồ Chí Minh,” Journal of 108 - Clinical Medicine and Pharmacy, Nov. 2020, Accessed: Sep. 29, 2025. [Online]. Available: https://tcydls108.benhvien108.vn/index.php/YDLS/article/view/518
6. P. Jensen, C. Zachariae, L. Skov, and R. Zachariae, “Sleep disturbance in psoriasis: a case-controlled study,” Br J Dermatol, vol. 179, no. 6, pp. 1376–1384, Dec. 2018, doi: 10.1111/BJD.16702.
7. E. Sahin et al., “Prevalence and factors associated with sleep disturbance in adult patients with psoriasis,” J Eur Acad Dermatol Venereol, vol. 36, no. 5, pp. 688–697, May 2022, doi: 10.1111/JDV.17917.
8. B. Tas, V. Kabeloglu, A. Soysal, and D. Atakli, “Sleep Quality in Psoriasis Patients and its Relations with Possible Affecting Factors.,” Sisli Etfal Hastan Tıp Bul, vol. 54, no. 2, pp. 181–187, May 2020, doi: 10.14744/SEMB.2018.53189.